Thanh Hóa ứng phó như thế nào cho vấn đề giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con

07/07/2014 Lượt xem: 373 In bài viết

Số người nhiễm HIV (do được phát hiện) ngày càng gia tăng, đúng với tỉnh Thanh Hoá đang đương đầu với đại dịch này. Theo đó, trẻ em sinh ra từ các bà mẹ nhiễm HIV cũng sẽ tăng lên và luỹ tích qua các năm.

Một vài nét chính trong lây truyền HIV từ mẹ sang con:

Tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con dao động từ 14% đến 25% ở các nước phát triển, từ 14% đến 42% ở các nước đang phát triển nơi mà việc nuôi con bằng sữa mẹ là phổ biến và ít được can thiệp bằng y tế.

Nguy cơ và thời điểm lây truyền HIV từ mẹ sang con khi không có can thiệp như sau:

- Thời kỳ có thai: Tỷ lệ nhiễm là 5%-10%.

- Lúc đẻ: Tỷ lệ nhiễm là 10% - 15%.

- Lúc cho con bú: Tỷ lệ nhiễm là 5% - 20%.

Trong số các phụ nữ bị nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS thì nguy cơ lây nhiễm qua sữa mẹ cao gấp 2 lần so với mới mắc bệnh.

Thanh Hoá là một tỉnh lớn, đông dân cư, số người nhiễm HIV mới được ghi nhận trong các tháng qua báo cáo giám sát từ 35 đến 50 người/tháng, kết quả trung bình trên 400 người/năm, số nữ giới nhiễm HIV có xu hướng ngày càng tăng .

Hàng năm, Thanh Hoá có 40 ngàn trẻ được sinh ra, tương đương với 40.000 phụ nữ mang thai. Trong đó tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV ở mức 0,5% có nghĩa là có khoảng gần 200 bà mẹ nhiễm HIV mang thai: Nếu được can thiệp tốt, tư vấn chăm sóc và điều trị tốt thì toàn tỉnh mỗi năm có 10 đến 15 cháu sinh ra bị nhiễm HIV từ mẹ ( tỷ lệ 5 - 7%). Nếu can thiệp, tư vấn điều trị không tốt thì hàng năm toàn tỉnh phải đón nhận từ 20 đến 30 cháu nhiễm HIV từ mẹ ( tỷ lệ 10 - 15%).

Đến tháng 5/2014: Hiện toàn tỉnh có luỹ tích số trẻ nhiễm HIV từ mẹ còn sống là 126 cháu, con số này sẽ gia tăng ở những năm tiếp theo, đây là một gánh nặng rất lớn đối với các gia đình có trẻ bị lây nhiễm và gánh nặng cho cả xã hội.

Hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con được triển khai trên địa bàn toàn tỉnh từ nhiều năm nay, đã khống chế được số lượng trẻ nhiễm HIV từ mẹ ở con số ban đầu như vậy. Tuy nhiên, hoạt động này còn gặp nhiều khó khăn như kinh phí về truyền thông giáo dục kiến thức lây truyền mẹ con cho cộng đồng còn hạn chế, cán bộ làm công tác này còn chưa được đào tạo nhiều, các cơ sở tư vấn xét nghiệm tự nguyện còn có nhiều khó khăn (xa, thiếu cơ sở tư vấn). Các phòng hộ sinh, các khoa sản bệnh viện đôi khi còn lúng túng trong việc điều trị thuốc ARV và các vấn đề chính sách có liên quan.

* Những giải pháp cần thực hiện ngay trên địa bàn tỉnh về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong năm 2014 và các năm tiếp theo là:

Để đạt được các mục tiêu là khống chế tỷ lệ trẻ em bị nhiễm HIV do mẹ truyền sang con xuống dưới 5%, không chế tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV ở mức dưới 0,5%; 90% số phụ nữ mang thai được tư vấn về HIV/AIDS và 60% trong số đó được xét nghiệm HIV; 100% phụ nữ có thai nhiễm HIV và con của họ được điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; 90% bà mẹ nhiễm HIV và con của họ (số quản lý được) được tiếp tục theo dõi và chăm sóc sau khi sinh. Thì cần thiết 2 giải pháp lớn sau:

A. Giải pháp về xã hội:

Tăng cường sự ủng hộ, tham gia chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con của chính quyền các cấp, các ban ngành đoàn thể liên quan đặc biệt vai trò chủ chốt thường trực là ngành y tế, Hội phụ nữ, Uỷ ban chăm sóc và bảo vệ trẻ em các cấp, Hội chữ thập đỏ, Hội nông dân, Lao động thương binh xã hội tham gia vào việc thiết lập kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ chăm sóc, quản lý cho các bà mẹ có thai nhiễm HIV và những đứa trẻ sinh ra từ các bà mẹ đó.

B. Các giải pháp về kỹ thuật:

- Đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục truyền thông , đầu tư kinh phí cho hoạt động này.

- Tăng cường các hoạt động dự phòng sớm: Khuyến khích sử dụng bao cao su và an toàn tình dục đặc biệt cho nữ giới trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49 tuổi). Khuyến khích xét nghiệm HIV trước khi kết hôn cả nam và nữ. Tư vấn cho 100% phụ nữ mang thai trước khi đẻ để họ tự đi làm xét nghiệm HIV.

- Tăng cường quản lý thai nghén sớm để phát hiện các nguy cơ: Phải làm từ các phòng hộ sinh ở xã, phường và tuyên truyền, lấy tuyến huyện là nòng cốt trong thực hiện kỹ thuật và tư vấn, chăm sóc cho bà mẹ nhiễm HIV mang thai, những trường hợp có bệnh cảnh phức tạp sẽ được chuyên lên tuyến trên.

- Đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ trực tiếp tham gia công tác DPLTMC ở tuyến huyện và xã.

- Phối hợp thật tốt với Bệnh viện đa khoa chẩn đoán xác định HIV cho bệnh nhân đến viện đặc biệt là bệnh nhân sản phụ.

- Điều trị tự phòng bằng thuốc ARV cho sản phụ nhiễm HIV lúc mang thai, chuyển dạ, áp dụng các biện pháp dự phòng trong khi đẻ.

- Tư vấn các biện pháp nuôi con cho bà mẹ nhiễm HIV, hỗ trợ sữa thay thế trong trường hợp đặc biệt.

- Hoàn thiện hệ thống thu thập số liệu, báo cáo và quản lý chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con từ tỉnh đến xã.

 

Ths Hoàng Tiến Ngọc

Nguồn hivthanhhoa.vn

[TT: TBC]