Tập trung thực hiện những giải pháp căn cơ trong phòng chống AIDS
12/12/2013 Lượt xem: 380 In bài viếtNhân Tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS (10-11 – 10-12) và Ngày Thế giới phòng, chống AIDS (01-12), Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đã trả lời phỏng vấn về những thành quả mà Việt Nam đạt được cũng như thách thức chúng ta phải vượt qua trong “cuộc chiến” đầy cam go này.
Thưa Phó Thủ tướng, xin Phó Thủ tướng cho biết, Việt
Nam đã đạt được những thành tựu gì sau hơn 20 năm đương đầu với đại dịch thế kỷ
HIV/AIDS?
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Thực tiễn 20 năm triển khai ứng phó với HIV/AIDS
tại Việt Nam đã ghi nhận sự thành công trong công tác quản lý, điều hành và
triển khai các hoạt động chuyên môn cần thiết. Thành tựu này được phản ánh qua
việc tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, điều hành của cơ quan điều phối quốc
gia, sự phối hợp mạnh mẽ của các bộ, ngành liên quan, sự tham gia nhiều hơn của
các tổ chức xã hội và cam kết rõ ràng hơn trong việc giải quyết vấn đề kỳ thị và
phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS. Từ đó kiểm soát tỷ lệ nhiễm HIV dưới
0,3% trong cộng đồng dân cư, giảm số người nhiễm mới HIV trong 4 năm liên tiếp.
Có thể tóm tắt một số thành tựu chính mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian
qua như sau: Trong công tác xây dựng thể chế, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban
hành nhiều văn bản quan trọng hướng dẫn triển khai thực hiện công tác phòng,
chống HIV/AIDS ở Việt Nam, như các Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương, Luật
Phòng, chống HIV/AIDS và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn công tác
phòng, chống HIV/AIDS. Đặc biệt, Nghị định 96/2012/NĐ-CP ngày 15-11-2012 của
Chính phủ quy định điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
là văn bản pháp lý quan trọng trong việc dự phòng lây nhiễm HIV qua đường máu,
nhất là tiêm chích ma túy khi đây chính là đường lây HIV chủ yếu tại nước ta từ
trước đến nay.
Về cơ bản, hành lang pháp lý cần thiết cho công tác phòng, chống HIV/AIDS đã
được hoàn thiện, đảm bảo ứng phó có hiệu quả với dịch HIV/AIDS tại nước ta hiện
nay và trong thời gian tới.
Đối với công tác tuyên truyền, công tác này được triển khai rộng khắp trên cả
nước với sự tham gia của các bộ, ngành, đoàn thể, với hình thức, nội dung và
phương pháp truyền thông về phòng, chống ngày một đa dạng trên cơ sở vận dụng,
áp dụng có hiệu quả các phương cách truyền thông ngày một phát triển.
Nói về những kết quả chúng ta đã đạt được, không thể không nhắc đến công tác can
thiệp giảm hại. Đây được coi là “quả đấm thép” trong công tác phòng, chống
HIV/AIDS trên thế giới cũng như tại Việt Nam, chúng ta đã triển khai đồng bộ 3
biện pháp can thiệp bằng bao cao su, bơm kim tiêm và điều trị nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế với độ bao phủ ngày càng mở rộng.
Qua đó, góp phần to lớn đến việc giảm tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nghiện
chích ma túy từ gần 30% vào năm 2001 xuống còn 11,6% vào năm 2012; tỷ lệ nhiễm
HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm giảm từ 5,9% năm 2002 xuống còn 2,7% năm 2012. Ước
tính số người nhiễm mới HIV những năm 2000, 2001 khoảng 29.000 trường hợp/năm
xuống còn khoảng 15.000 trường hợp mới/năm trong 2 năm gần đây. Thành công của
chương trình đã đóng góp to lớn vào việc ngăn chặn và khống chế đại dịch
HIV/AIDS tại Việt Nam trong những năm qua.
Về chăm sóc và điều trị, trên cơ sở kết hợp toàn diện các mô hình chăm sóc và
điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS, chương trình này đã liên tục mở rộng qua thời
gian, hiện đã cung cấp dịch vụ điều trị cho gần 78.000 người nhiễm HIV/AIDS
(tăng gấp 20 lần so với năm 2005). Hiệu quả chương trình đã làm giảm số trường
hợp tử vong do HIV/AIDS từ hơn 6.000 ca mỗi năm (trước năm 2006) xuống còn
khoảng 2.500 ca mỗi năm trong 2 năm gần đây.
Việt Nam cũng đã đưa vào triển khai thí điểm sáng kiến điều trị 2.0 tại một số
tỉnh, thành phố, phân cấp việc cung cấp dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV, chăm sóc
và điều trị HIV/AIDS bao gồm việc cấp phát thuốc ARV tại trạm y tế xã/phường
nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ điều trị và tăng cường tuân thủ điều
trị của người nhiễm HIV.
Bên cạnh đó, công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cũng đã được đưa
vào triển khai từ năm 2006. Công tác này hiện đang được triển khai trên phạm vi
toàn quốc và đã làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV từ mẹ sang con khoảng 25% trong những
năm trước đây xuống còn khoảng 11,0% trong năm 2012.
Trong công tác giám sát, đánh giá, chúng ta đã chủ động việc đánh giá, phân tích
và dự báo được xu hướng dịch HIV/AIDS, từ đó tập trung phân bổ nguồn lực hợp lý
nhằm triển khai các can thiệp có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm tình hình dịch
HIV/AIDS tại từng địa phương. Ngoài ra, các báo cáo do Việt Nam thực hiện như
UNGASS, MDGs,... được các cơ quan của Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và cộng
đồng các nhà tài trợ đánh giá cao.
Cuối cùng là thành quả trong chống kỳ thị và phân biệt đối xử. Công tác này ngày
càng nhận được nhiều sự quan tâm, đồng thuận của toàn xã hội, từ đó giảm đáng kể
mức độ kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, trong đó có cả những trẻ
em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV.
Để hướng tới "Không còn người nhiễm mới HIV" như chủ đề của Tháng hành động quốc
gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2013, chúng ta cần phải nỗ lực vượt qua những
thách thức nào, thưa Phó Thủ tướng?
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Mặc dù đã đạt được những thành công, nhưng Việt
Nam vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Dịch HIV/AIDS vẫn diễn biến
phức tạp và vẫn đang ở mức cao tại các khu mực miền núi, nơi điều kiện kinh tế
còn nghèo, đi lại còn khó khăn, dịch vụ y tế còn nhiều hạn chế. Mặt khác, các
chương trình dự phòng, chăm sóc và điều trị chưa đảm bảo khả năng khống chế được
tình hình dịch HIV/AIDS do độ bao bao phủ còn thấp.
Ngoài ra, vẫn còn sự phân biệt kỳ thị của cộng đồng và tâm lý tự kỳ thị của
người nhiễm HIV, người có hành vi nguy cơ cao, người bị ảnh hưởng HIV/AIDS cũng
đã vô tình tạo ra rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS
trong chính các nhóm đối tượng này.
Trong thời gian gần đây, sự hỗ trợ về kỹ thuật, đặc biệt là về nguồn lực tài trợ
bị giảm, trong khi khả năng ngân sách quốc gia đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS
vẫn gặp nhiều khó khăn do nguồn lực hạn chế và phải đầu tư cho nhiều chương
trình mục tiêu quốc gia ưu tiên khác cũng khiến công tác phòng chống HIV/AIDS
gặp khó khăn.
Thưa Phó Thủ tướng, trong giai đoạn tới, chúng ta cần tập trung vào những trọng
tâm nào của công tác phòng, chống HIV/AIDS để vượt qua những thách thức trên?
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Trước tiên, chúng ta cần hoàn thiện công tác xây
dựng cơ chế, chính sách, khuyến khích sự tham gia của xã hội để đảm bảo đủ các
nguồn lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn tới.
Đồng thời, phải duy trì và phát huy những thành quả đã đạt được trong thời gian
qua, trong đó tập trung ưu tiên mở rộng chương trình điều trị methadone tại các
địa phương trọng điểm về ma túy và HIV/AIDS, đẩy mạnh công tác chăm sóc và điều
trị HIV/AIDS để có thể đạt được mục tiêu thiên kiên kỷ mà Việt Nam đã cam kết
với cộng đồng quốc tế, tiến tới giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con dưới
10% vào năm 2014.
Bên cạnh đó, tăng cường công tác chống kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến
nhiễm HIV/AIDS, thu hút sự tham gia của người nhiễm HIV cũng như của những người
dễ bị tổn thương bởi HIV/AIDS vào các hoạt động phòng, chống đại dịch này.
Trước tình hình nguồn kinh phí từ các tổ chức quốc tế cho phòng, chống HIV/AIDS
đang bị cắt giảm, xin Phó Thủ tướng cho biết Chính phủ sẽ có những giải pháp gì
để giải quyết vấn đề này?
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Ngay sau khi cộng đồng các nhà tài trợ chính
thức thông báo về lộ trình cắt giảm ngân sách hỗ trợ cho Việt Nam, trong tháng
12-2012, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế phối hợp với các bộ, ngành Trung ương, các
địa phương và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ phương án
đảm bảo nguồn tài chính bền vững chương trình phòng, chống HIV/AIDS của nước ta
theo những mục tiêu, chỉ tiêu và nội dung hoạt động đã được quy định tại Chiến
lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Bộ Y tế đã
trình và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề án đảm bảo tài chính cho các hoạt
động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2013 - 2020" tại Quyết định số 1899/QĐ-TTg
ngày 16-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích xu hướng tình hình dịch HIV/AIDS, phân
tích, đánh giá các điều kiện khách quan, chủ quan trong và ngoài nước, Đề án đã
đưa ra hàng loạt giải pháp đảm bảo đủ các nguồn lực cần thiết cho hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới, tập trung vào 2 nhóm giải pháp hết
sức căn cơ.
Cụ thể, giải pháp thứ nhất là tiếp tục huy động các nguồn lực từ ngân sách nhà
nước, nguồn lực từ các địa phương, viện trợ quốc tế và từ nguồn xã hội hóa như
bảo hiểm y tế, thu phí dịch vụ...
Giải pháp thứ hai là quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực, tiết kiệm nguồn kinh
phí thông qua các nhóm giải pháp quản lý chương trình nhằm lồng ghép các hoạt
động phòng, chống HIV/AIDS vào hệ thống y tế sẵn có, củng cố hệ thống cung cấp
dịch vụ theo hướng chi phí - hiệu quả. Ngoài ra, phân bổ hiệu quả, tập trung
điều phối nguồn lực huy động được và quản lý, giám sát chi tiêu hiệu quả để hạn
chế các khó khăn do việc cắt giảm kinh phí.
Tới đây, Chính phủ sẽ ban hành các cơ chế, chính sách cần thiết để hiện thực hóa
các giải pháp trên để đảm bảo việc hoàn thành các mục tiêu Chiến lược quốc gia
phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã đặt ra.
Xin trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng!
Nguồn chinhphu.vn
[TT: TBC]
