Phòng chống HIV/AIDS cho đồng bào dân tộc thiểu số: cần những giải pháp đồng bộ
12/12/2013 Lượt xem: 239 In bài viếtTrong những năm qua, công tác phòng chống HIV/AIDS ở nước ta đã có nhiều bước tiến quan trọng về mọi mặt. Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay là, các dich vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS mới chỉ được tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn. Trong khi đó, với những nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, công tác này còn đang gặp rất nhiều khó khăn.
Từ thực tế đáng báo động
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế về tình hình phòng chống HIV/AIDS ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi có số lượng lớn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Thái Nguyên…hiện có tỉ lệ nhiễm HIV cao gấp 2 lần so với tỉ lệ chung của toàn quốc. Trong đó, báo cáo của các địa phương cho thấy dịch HIV/AIDS cũng đang gia tăng tại các huyện, khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa ở các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Theo báo cáo của 49 tỉnh, thành phố có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, cho đến thời điểm cuối năm 2012 có khoảng 15.910 người dân tộc thiểu số nhiễm HIV/AIDS còn sống, trong đó có 12.040 người là bệnh nhân AIDS. Một số dân tộc có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn trung bình tỷ lệ nhiễm HIV trong quần thể chung cả nước nhiều lần. Trong số 10 tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân cao nhất năm 2012, đã có 7 tỉnh thuộc miền núi phía Bắc.
Nghiên cứu của Dự án Phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam do Ngân hàng Thế giới và Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) tài trợ được tiến hành tại 12 tỉnh trong giai đoạn 2006 - 2012 với cỡ mẫu lên đến 12.245 người dân tộc thiểu số trong độ tuổi 15 - 49 cho thấy một số tỉnh tỷ lệ nhiễm HIV trong đồng bào dân tộc cao hơn tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư chung toàn quốc như Lai Châu năm 2012 là 1,3%, Thanh Hóa là 1%. Trong khi kết quả đánh giá thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2012 của cả nước chỉ có 0,24%.
Trong một số nghiên cứu với quy mô nhỏ hơn cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số cũng cao hơn nhiều lần so với tỷ lệ chung của cả nước như một nghiên cứu của trường Đại học Y Hà Nội năm 2012 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm dân tộc thiểu số tuổi từ 15-49 tại Sơn La là 4,4%, Nghệ An là 3,25 %.
Đến những khó khăn trong công tác phòng chống
Theo báo cáo từ 49 tỉnh, thành phố có đông người dân tộc chỉ có 45 tỉnh, thành phố có ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm ở các quận, huyện. Hiện nay, nhiều tỉnh, thành phố có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng có rất ít các địa phương ban hành văn bản chỉ đạo cũng như có chính sách riêng về phòng chống HIV/AIDS cho đồng bào.Chủ yếu các kế hoạch và chương trình hành động phòng chống HIV cho đồng bào dân tộc đều nằm trong chỉ đạo chung của các tỉnh, huyện.
Về mặt thực tiễn, mặc dù các địa phương đã có nỗ lực cố gắng trong việc truyền thông phòng chống HIV/AIDS cho đồng bào dân tộc thiểu số nhưng do đặc thù nhận thức chung của đồng bào còn hạn chế, địa bàn rải rác, tập quán phong tục có nhiều khác biệt dẫn đến độ bao phủ của các thông điệp truyền thông phòng chống HIV còn rất hạn chế. Chính vì vậy, qua các điều tra cho thấy nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số về dự phòng, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho đồng bào các tỉnh, thành phố thấp hơn người Kinh rất nhiều.
Đối với công tác tư vấn, xét nghiệm HIV, hiện nay trong số 22 tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì chỉ có 129 phòng tư vấn xét nghiệm HIV (5,8 phòng/tỉnh), trong khi đồng bào dân tộc sống rải rác và ở các vùng sâu vùng xa nên công tác này là rất khó khăn. Bên cạnh đó, việc xét nghiệm HIV lưu động thời gian qua mới chỉ mang tính thí điểm tại một số tỉnh, thành phố, chưa đáp ứng được nhu cầu và sự tiếp cận của đồng bào dân tộc. Như vậy, mạng lưới cung cấp dịch vụ tư vấn xét nghiệm mỏng cũng là trở ngại cho dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ dự phòng, chăm sóc HIV/AIDS.
Hoạt động điều trị, chăm sóc cho người nhiễm HIV và dự phòng lây truyền từ mẹ sang con cho đồng bào dân tộc cũng còn không ít hạn chế. Tính chung trên 22 tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thì mới chỉ có 69/234 (29%) số huyện có các phòng khám điều trị ngoại trú đang điều trị cho 11.112 bệnh nhân trên tổng số 23.895 bệnh nhân có nhu cầu điều trị, như vậy mới chỉ đáp ứng được 46,5% nhu cầu thấp hơn tỷ lệ chung cả nước (xấp xỉ 70%). Tương tự với điều trị, hiện nay độ bao phủ dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cũng chỉ đạt 25,6%. Độ bao phủ của dịch vụ dự phòng chỉ tập trung ở tuyến tỉnh, thành phố và những địa phương có dự án tài trợ.
Cần những giải pháp đồng bộ
Rõ ràng với những nguyên nhân và thực trạng nêu trên trong công tác phòng chống HIV ở các đồng bào dân tộc thiểu số, đã đến lúc chúng ta cần xây dựng được một phương hướng giải quyết lâu dài, bền vững trong đó phải có sự kết hợp đồng bộ từ Trung ương đến địa phương .
Về phía Nhà nước, trước hết chúng ta cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS riêng cho đồng bào dân tộc cũng như phối hợp giữa ngành y tế với ban dân tộc, tôn giáo địa phương trong việc tổ chức hoạt động cụ thể.
Thứ hai, tăng cường ngân sách chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống HIV/AIDS cho các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Các nhóm đồng đẳng viên cần được địa phương quan tâm hơn nữa để họ thực sự phát huy vai trò trong công tác vận động những người nhiễm HIV hòa nhập cộng đồng.
Thứ ba, cần mở rộng hơn nữa sự hỗ trợ các hoạt động truyền thông, can thiệp giảm thiểu tác hại, hỗ trợ kịp thời, vận động, khen thưởng khuyến khích cho các cá nhân đóng góp tích cực vào hoạt động phòng chống HIV nói chung. Đặc biệt là thực hiện chính sách hỗ trợ thích đáng cho các cán bộ y tế và các ngành trong việc nâng cao đời sống và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở vùng sâu vùng xa, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú.
Đối với địa phương, triển khai mạnh mẽ, đồng bộ và thường xuyên chương trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS đến đồng bào dân tộc thiểu số phải là yêu cầu tất yếu. Trong đó, ưu tiên tập trung truyền thông nhóm nhỏ hoặc các mô hình truyền thông có những hình ảnh, câu chuyện trực quan gần gũi với đồng bào. Từng bước tăng cường truyền thông chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Lựa chọn, đào tạo và sử dụng mạng lưới y tế thôn bản tại địa phương tham gia triển khai các hoạt động trong chương trình phòng chống HIV/AIDS.
Tiếp tục củng cố, bổ sung và đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên là người dân tộc thiểu số sống tại các bản làng. Những xã có nhiều đồng bào dân tộc cần ưu tiên tuyển cộng tác viên phòng chống HIV là người dân tộc để đảm bảo công tác thông tin, giáo dục truyền thông và can thiệp khác.
Đối với các huyện khu vực biên giới hoặc nơi có tỷ lệ người dân đi làm ăn xa nhà, cần nghiên cứu các nguy cơ lây nhiễm HIV có thể gặp phải để thiết kế thông tin cho phù hợp và thiết lập kênh phân phát bơm kim tiêm, bao cao su.
Tăng cường mức kinh phí đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa bằng chính nguồn ngân sách của địa phương từng cấp phối hợp với nguồn kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia cũng như các nguồn viện trợ từ các tổ chức quốc tế để hỗ hợ hoạt động phòng chống HIV/AIDS cho đồng bào dân tộc thiểu số./.
Kim Sơn
Theo dangcongsan.vn
[TT: PLN]
